Địa danh câu chuyện dài và vô cùng thú vị (bài 2)

08:54 - Thứ Năm, 19/01/2017 Lượt xem: 2889 In bài viết
Bài 2: Trong số các địa danh trên địa bàn tỉnh Lai Châu trước đây cũng như tỉnh Điện Biên hiện nay, cùng với địa danh “Mường Thanh”, thì “Điện Biên” nói chung và “Điện Biên Phủ” nói riêng là những địa danh nổi tiếng nhất, ấn tượng nhất và đặc biệt nhất. Về địa danh “Mường Thanh” chúng tôi đã hơn một lần đề cập (Báo Điện Biên Phủ cuối tuần, số 236 ngày 09/08/2014) và nay, xin được trình bày đôi nét về địa danh “Điện Biên” và địa danh “Điện Biên Phủ”...

Trong hầu hết các tài liệu xa xưa cũng như trong tất cả các công trình nghiên cứu mang dáng dấp biên niên mấy chục năm gần đây, hết thảy đều ghi đại loại: Tháng 1 năm Tân Sửu (1841), ông vua thứ 3 của dòng họ Nguyễn lên ngôi, đó là Nguyễn Hiến Tổ (1841-1847), lấy niên hiệu Thiệu Trị. Ngay năm đầu tiên trị vì (Thiệu Trị nguyên niên), Nguyễn Hiến Tổ đã ra sắc chỉ thay đổi tên gọi của các địa phương, theo đó, tên gọi Ninh Biên đổi thành Điện Biên như hiện giờ. Nói tóm lại, tên gọi Điện Biên có từ năm đầu dưới triều vua Thiệu Trị (Tân Sửu, 1841). Theo các nguồn sử liệu, vào đời Minh Mạng (1820-1841), có một danh sỹ tên là Nguỵ Khắc Tuần (1799-1854, hiệu Thiện Thủ), nổi tiếng tài giỏi, thanh liêm và chuyên cần; quê xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Bính Tuất (1826), Nguỵ Khắc Tuần đỗ tiến sĩ lúc mới 27 tuổi, được bổ làm Tuần phủ, rồi Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, sau làm đến Thượng thư bộ Hộ, kiêm Tổng tài Quốc sử quán, tửu giám, hàm Hiệp biện đại học sĩ...

 

Thành phố Điện Biên Phủ mùa hoa ban.

Đầu năm 1841, trước tình hình nơi biên thùy phía Bắc thường xuyên có những bọn “giặc cỏ” nổi lên cướp phá, đông đảo quần thần đồng thanh tiến cử Ngụy Khắc Tuần giữ chức Bố chánh tỉnh Sơn Tây - Hưng Hóa (bao gồm cả phần lớn diện tích các tỉnh Tây Bắc hiện nay, trong đó có tỉnh Điện Biên). Được vua Thiệu Trị ban chiếu chuẩn y, sau hơn nửa năm tuần thú, nhận thấy vùng đất này hiểm trở, thưa dân, nhưng lại không có các thành lũy bố phòng khả dĩ chống lại những cuộc xâm lăng của ngoại bang; cuối năm 1841, quan Bố chánh Ngụy Khắc Tuần dâng sớ về kinh, tấu trình lên vua Nguyễn Hiến Tổ về việc đặt tên cho vùng đất này là “Điện Biên”, tức vùng đất vững vàng ngoài biên. Trước đó, nơi đây có tên gọi Ninh Viễn và Ninh Biên. Theo âm Hán - Nôm, có nghĩa: Vùng đất yên ổn cõi xa (Ninh Viễn) và vùng đất yên ổn ngoài biên (Ninh Biên).

Sau khi cùng các văn quan võ tướng bàn bạc, nhà vua ban dụ đồng ý cho Ngụy Khắc Tuần họp bàn với dân phiên trấn Hưng Hóa (Điện Biên); thành lập phủ Điện Biên (Điện Biên Phủ), coi đây là một phên giậu che chắn cho vùng biên cương hiểm địa với hai phương châm: “Mạnh có thể tiến công thắng lợi, yếu có thể lui binh chờ thời”. Kèm theo chỉ dụ, nhà vua còn gửi theo tiễu mã lên biên giới, ban thưởng cho quan đầu xứ Ngụy Khắc Tuần một chiếc nhẫn vàng và mười đồng tiền vàng niên hiệu “Thiệu Trị Thông Bảo”.

Hẳn bạn đọc đều biết thời đại Nguyễn Hiến Tổ là thời mà Hán học rất thịnh hành, bản thân nhà vua lại là người siêng năng việc dùi mài kinh sử, giỏi thơ và rất hay chữ. Vì thế mà sau khi tiếp nhận bản sớ của Ngụy Khắc Tuần, nhà vua nhanh chóng nhận ra ngay sự thâm thúy trong danh từ “Điện Biên”. Theo đó, Điện Biên là từ ghép Hán - Nôm gồm 2 từ tố Điện và Biên, có quan hệ đẳng lập; tức là bổ trợ cho nhau trong một phạm vi ngôn ngữ (nói) hoặc văn bản (viết) cụ thể, chứ không lệ thuộc vào nhau về ngữ nghĩa tự vị nội hàm. Bằng chứng là chúng ta có thể gặp Điện hoặc Biên trong rất nhiều trường hợp khác, mang những nội dung thông tin khác (đương nhiên với những cách viết ít nhiều khác nhau về mặt tự dạng theo nguyên tắc Hán - Nôm), chứ không nhất thiết Điện phải đi với Biên mới có nghĩa. Trở lại 2 chữ Điện và Biên trong địa danh Điện Biên; trước hết, xin bàn về chữ Điện. Chữ Điện bao gồm các nghĩa chính: Yên ổn vững chãi, tiến cúng, sắp đặt... Trong chữ Điện chứa 3 chữ (nói cách khác chữ Điện được tạo thành bởi 3 chữ): Bát, Dậu và Đại, từng chữ lại mang nhiều nghĩa khác nhau; đặc biệt nhất (và cũng ý nghĩa nhất) là trường hợp chữ Dậu. Theo cách tính ngày tháng âm lịch, thì Dậu nằm ở địa chi thứ 10, ứng với con gà; nghĩa gốc của Dậu là Tửu, chỉ một loại đồ uống có men say (bây giờ gọi là đồ uống có cồn). Năm âm lịch (2017) này cũng là năm Đinh Dậu (Con Gà).

Như vậy, ngay năm đầu tiên trị vì (Thiệu Trị nguyên niên), Nguyễn Hiến Tổ đã ra sắc chỉ thay đổi tên gọi của các địa phương, theo đó, tên gọi Ninh Biên đổi thành Điện Biên như hiện giờ. Theo các nhà địa danh học và các nhà sử học, sự thay đổi dịa danh là cách để các triều đại khẳng định vai trò quyền lực của mình về chủ quyền cương vực quốc gia, trước các thế lực chống đối trong nước cũng như các tập đoàn phong kiến ngoại bang. Người có công sáng tạo ra địa danh Điện Biên, không ai khác ngoài quan Bố chánh Ngụy Khắc Tuần - Đó là điều đã từ lâu được xác nhận trong chính sử nước nhà.

Cùng với địa danh Điện Biên, trong những trường hợp cụ thể chúng ta thấy xuất hiện chữ “Phủ” đi kèm tạo thành một tổ hợp danh từ riêng gồm 3 âm tiết (Điện Biên Phủ). So sánh 3 trường hợp sử dụng sau: Tỉnh (hoặc huyện) Điện Biên, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên Đông; ta thấy trường hợp thứ nhất có 2 âm tiết (Điện Biên), trường hợp thứ 2 có 3 âm tiết (thêm chữ Phủ trong Điện Biên Phủ), trường hợp thứ 3 cũng gồm 3 âm tiết nhưng chữ Phủ được thay bằng chữ Đông (trong Điện Biên Đông). Điều đáng bàn ở đây là cả 3 trường hợp đều dùng để ghi địa danh và cả 3 đều... có chung trường nghĩa! Mặc dầu với trường hợp này chữ Phủ là do chúng ta thêm vào theo một thói quen vô tình, còn trong trường hợp kia chữ Đông là do thay đổi một cách có chủ định, theo một quy ước thành văn trong các văn bản hành chính liên quan.

Từ trước tới nay, trong ngôn ngữ (lời nói) cũng như trong ký tự (chữ viết) - kể cả trong các tác phẩm văn học, báo chí, các văn bản pháp quy và các con dấu cơ quan - chúng ta thường viết: thị xã Điện Biên Phủ hoặc thị xã Điện Biên phủ (chữ phủ không viết hoa) và thành phố Điện Biên Phủ... ở một số thành phố và thị xã tỉnh bạn, có phố Điện Biên Phủ, đường Điện Biên Phủ, công viên Điện Biên Phủ... Về mặt xuất xứ từ nguyên, phủ là từ gốc Hán, có nhiều nghĩa khác nhau nếu xét về vỏ thanh âm. Tuy nhiên, trong phạm vi văn bản hành chính, phủ là “đơn vị hành chính thời phong kiến, tương đương với cấp huyện nhưng có vị trí quan trọng hơn” (trang 788 - Từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê (chủ biên) - Viện Ngôn ngữ học, bản in lần thứ bảy, 2001). Do vậy: Chữ phủ không thể viết hoa cùng với Điện Biên để làm thành một tổ hợp danh từ riêng, ví dụ: thị xã Điện Biên Phủ. Cũng không nên viết: thị xã Điện Biên phủ (chữ phủ viết thường), thành phố Điện Biên Phủ, đường Điện Biên Phủ, phố Điện Biên Phủ, công viên Điện Biên Phủ, báo Điện Biên Phủ, phòng Văn hoá Thông tin thành phố Điện Biên Phủ, Trường Tiểu học Điện Biên Phủ... Vì vô hình trung sẽ thành: thị xã Điện Biên huyện, thành phố Điện Biên huyện, đường Điện Biên huyện, phố Điện Biên huyện, công viên Điện Biên huyện, báo Điện Biên huyện, phòng Văn hoá Thông tin thành phố Điện Biên huyện, Trường Tiểu học Điện Biên huyện...(!). Tóm lại, cần phải viết đúng là: thị xã Điện Biên, thành phố Điện Biên, công viên Điện Biên... (bỏ chữ phủ đằng sau).

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5/1954, đúng như câu thơ của Tố Hữu: “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, danh từ riêng Điện Biên như được “chắp cánh” để càng thêm bay cao và bay xa. Nhanh thật, mới đó mà đã 176 năm tên gọi Điện Biên (1841-2017). Sắp tới, dịp kỷ niệm 63 năm ngày chiến thắng (05/1954-05/2017), thêm một lần người Điện Biên mở rộng lòng mình đón chào bè bạn gần xa. Mỗi công dân Điện Biên nói chung và thành phố Điện Biên Phủ nói riêng, nguyện làm tất cả những gì có thể để góp phần nhỏ bé tô đẹp hình ảnh một Điện Biên Phủ anh dũng trong chiến đấu; cần cù, tự chủ và sáng tạo trong lao động, công tác và học tập; thân thiện và hiểu biết trong thời đại mở cửa, giao lưu và hội nhập. Mãi mãi địa danh Điện Biên là vùng đất xứng danh với thâm ý của người đã đi vào lịch sử Điện Biên với tư cách “mở đường” - Danh nhân Nguỵ Khắc Tuần!...

(Đón đọc kỳ 3)

Trương Hữu Thiêm
Bình luận