Văn hóa Thái qua kinh nghiệm canh tác ruộng nước

09:24 - Thứ Năm, 02/11/2017 Lượt xem: 530 In bài viết
ĐBP - Ðặc điểm cư trú nổi bật của đồng bào Thái là dọc các thung lũng vùng thấp, nơi có nhiều sông suối ao hồ, chính vì thế mà các nhà dân tộc học xếp dân tộc Thái là những cư dân đại diện cho nền văn minh thung lũng (Valley culture). Trên thực tế, đồng bào Thái dù sống ở vùng nào cũng tỏ ra vừa giỏi chài lưới ngoài sông dưới suối, lại rất thành thạo việc khai thác, sử dụng nguồn nước tự  nhiên phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp...

Trước hết, xin nhắc lại câu ngạn ngữ mà nhiều người cho là của dân tộc Thái, rằng: “Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước, Mông ăn theo sương mù”. Chỉ 13 âm tiết ngắn gọn vậy thôi, nhưng câu cách ngôn đã phản ánh được những nét văn hoá đặc trưng nhất về tập quán cư trú, sản xuất và sinh hoạt, của 3 tộc người đại diện cho 3 nhóm ngôn ngữ: Môn - Khơme, Tày - Thái và Mông - Dao. Là những cư dân nông nghiệp, hơn thế, lại là những cư dân có truyền thống định cư lâu đời bên những dòng sông, con suối, kinh nghiệm cuộc sống tạo cho đồng bào Thái ở Ðiện Biên những tri thức về nước rất phong phú và độc đáo. Những tri thức này chẳng những giúp đồng bào cư xử hài hòa với tự nhiên, thích ứng với tự nhiên, lợi dụng tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống con người; mặt khác, nó còn góp phần làm phong phú, đa dạng thêm bản sắc văn hóa tộc người.

 

Cọn nước vùng cao. Ảnh: Lê Tuấn

Quả thực có dịp tới các làng bản người Thái sinh sống, chúng ta dễ dàng nhìn thấy không chỉ những công cụ đơn lẻ mà cả một hệ thống công trình dựng bên bờ sông, ven suối hoặc cạnh các cánh đồng, phục vụ việc cung cấp nguồn nước cho các chân ruộng. Hàng bao đời nay, đó là thứ nông cụ quen thuộc và đắc dụng trong nền sản xuất nông nghiệp của đồng bào Thái nói riêng và các dân tộc vùng cao nói chung. Sở hữu những phần đất với các điều kiện canh tác thuận lợi, người Thái từng bước phát triển nền nông nghiệp lúa nước với hệ thống thủy lợi mương - phai - lái - lịn và những ao hồ, trước hết là để trữ nước đồng thời dùng vào việc nuôi thả thủy sản. Chẳng phải ngẫu nhiên mà trên mâm cúng cổ truyền của người Thái, bao giờ cũng có món xôi nếp và món cá nướng. Ðó là cách bà con “trả ơn” những thửa ruộng vừa cấy lúa vừa thả cá, một loại hình canh tác cho thu nhập cao trên cùng một đơn vị điền thổ.

Ðể có thêm thông tin về văn hóa dân tộc Thái qua kinh nghiệm canh tác ruộng nước, chúng tôi may mắn có buổi làm việc với một người con của dân tộc Thái chính gốc; đó là ông Lò Ngọc Duyên - Trưởng ban Ðiều phối Trung tâm Bảo tồn và Phát triển tri thức các dân tộc Ðiện Biên, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Ðiện Biên. Như một cách chia sẻ đầy tự hào về dân tộc mình, ông Lò Ngọc Duyên cho biết: Bà con dân tộc Thái có nhiều kinh nghiệm chinh phục nguồn nước tự nhiên, trong hệ thống các công trình “dẫn thủy nhập điền”, trước hết phải kể đến vai trò của công trình thuỷ lợi mà người Thái gọi là “phai”. Ðó là một con đập chắn ngang dòng suối nhằm tạo độ chênh của dòng chảy, có tác dụng đưa nước vào mương và sau đó nước từ mương chảy vào các thửa ruộng bậc thang cao hơn mặt suối, thông qua hệ thống máng dẫn truyền thống bằng tre hoặc bương (ngày nay ở nhiều nơi, hệ thống máng dẫn này được thay bằng ống nhựa công nghiệp hoặc ống cao su). Thông thường phai là một công trình lớn, đảm bảo cung cấp nước tưới cho hàng chục, thậm chí hàng trăm hecta lúa ruộng. Do vậy, có khi cả hợp tác xã hoặc cả một vùng nhiều xã cùng góp công góp của làm phai.

Nhiều khi “chỉ đạo kỹ thuật” làm phai không phải là trưởng bản hay chủ nhiệm hợp tác xã, mà là các già làng trưởng bản - người có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi. Việc chọn vị trí đặt phai rất quan trọng, tiêu chí đầu tiên là phải đưa được nước vào chân ruộng cao nhất của cả một vùng canh tác. Cái khó tiếp theo là phải chịu được sức xói mòn tàn phá của không chỉ  1 - 2 mà là nhiều mùa mưa lũ của những năm tới. Thông thường người ta chọn chỗ làm phai có những tảng đá, gốc cây to và phai được đặt chéo (thay vì đặt ngang) dòng suối để giảm thiểu sức cản của con nước khi mùa mưa. Trước kia phai chủ yếu được làm bằng những vật liệu “rẻ tiền mau hỏng” như: Tre, gỗ, đất, đá... nhưng nay một số nơi được bê tông hóa và đó chính là các đập dâng, được xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước qua các chương trình, dự án đầu tư phát triển nông nghiệp.

Ðại đa số cư dân Thái sinh sống và làm ruộng nước trong các lòng chảo nhiều sông suối khe rạch. Ðây là địa bàn thấp nên hay xảy ra lũ ống, lũ quét song kinh nghiệm canh tác ruộng nước đã giúp họ vượt lên hoàn cảnh, chiến thắng thiên tai nhờ hệ thống phai - mương - lái - lín vào hàng khuôn mẫu... Tuy nhiên, đẹp mắt nhất, nên thơ nhất không phải các phai - mương - lái - lín mà chính là các cọn nước. Về quy mô có thể khác nhau, nhưng xét theo nguyên tắc cấu tạo, cọn nước gồm 2 bộ phận chính: Ðập chắn nước và guồng chuyển nước. Ðập chắn nước gồm nhiều đoạn tre (chứ không dùng gỗ vì gỗ không trụ được trong môi trường nước), đóng sâu xuống lòng suối theo hình phễu hoặc hình vòng cung. Ðập này vừa có tác dụng ngăn nước lại để mực nước dâng lên cao, vừa là nơi đặt guồng chuyển nước. Guồng chuyển nước là một vòng tròn bằng tre trông như một cái bánh xe, đường kính lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào khoảng cách mặt đập với mặt nước cao hay thấp. Trục “bánh xe” là một đoạn gỗ tròn (hoặc vuông), đường kính khoảng 15cm, được nối với vòng tròn ngoài cùng bởi một hệ thống các “nan hoa” bán kính cũng bằng tre.

Trên bề mặt của vòng tròn được gắn những phên đan bằng tre hoặc nứa vuông góc với các dây cung, đây chính là những tấm chắn để dòng nước tác dụng lên đó sinh ra lực cuốn li tâm, kéo guồng nước quay quanh trục của nó. Cũng trên bề mặt vòng tròn, giữa những phên đan là các ống bương một đầu để hở, buộc chếch chừng trên dưới 40o. Những ống tre này sẽ vục nước ở dưới thấp, rồi theo vòng quay thân cọn mang nước lên cao, đổ vào phần ruộng bên trên... Cứ như thế, ngày này sang ngày khác, những cọn nước thô sơ bền bỉ làm công việc “điều tiết” thủy nông cho những cánh đồng. Không cần đến điện, không cần đến dầu nhớt bôi trơn, cái cọn nước kiên nhẫn làm việc trong mọi điều kiện thời tiết.

Không ai biết cọn nước có từ bao giờ và do người nào nghĩ ra, song một điều có thể khẳng định rằng đó là sản phẩm lâu đời của nền văn minh lúa nước vùng cao. Ðồng bào dân tộc thiểu số nói chung, các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày - Thái nói riêng, là những người có nhiều kinh nghiệm trong việc chế tạo và sử dụng cọn nước. So với máy bơm điện hoặc hệ thống kênh mương nội đồng đã bêtông hóa, thì tốc độ chuyển nước của cọn nước không bằng. Tuy nhiên, nếu hạch toán giá thành và đặc biệt với những vùng không có điện để chạy máy bơm hoặc địa thế chênh vênh không thể làm mương dẫn, thì cọn nước chính là sự lựa chọn số một cho việc giải quyết nguồn nước tưới nông nghiệp.

Xin hãy hình dung khung cảnh vùng cao, vào một buổi chiều hoàng hôn phủ tím những triền núi biếc, dọc bờ suối hàng chục cái cọn nước cần mẫn quay tròn. Cùng với đó là tiếng nước đổ ì oạp, tiếng guồng quay kẽo kẹt xen lẫn những tiếng cười khúc khích của các sơn nữ trong cuộc “tắm tiên”. Nếu bạn là nhà nhiếp ảnh chắc không thể không dừng lại, lấy máy ra và bấm lia lịa, cố thu vào ống kính những khuôn hình chân thực và lãng mạn nhất về cuộc sống sơn thôn. Như vậy, cái cọn nước không chỉ gắn bó mật thiết với đời sống cư dân nông nghiệp vùng cao, mà còn là đề tài hấp dẫn cho văn học nghệ thuật...

Thu Loan
Bình luận