Kinh tếTìm hiểu chính sách thuế

Hỏi - đáp chính sách thuế

07:26 - Thứ Tư, 08/03/2023 Lượt xem: 19441 In bài viết

 (Tiếp theo kỳ trước)

Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty do khai bổ sung hồ sơ khai thuế GTGT làm tăng số tiền thuế GTGT phải nộp thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế phải nộp tăng thêm kể từ ngày kế tiếp ngày cuối cùng thời hạn nộp thuế của kỳ tính thuế có sai, sót. Mức tính tiền chậm nộp, thời gian tính tiền chậm nộp và các trường hợp không tính tiền chậm nộp được quy định tại khoản 2, khoản 5 Điều 59 Luật Quản lý thuế đã trích dẫn ở trên.

Câu hỏi: Đã hết thời hạn nộp tiền phạt vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước (NSNN) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn của cơ quan thuế, nhưng doanh nghiệp vẫn chưa nộp tiền phạt vào NSNN, vậy cơ quan thuế tính tiền chậm nộp tiền phạt của doanh nghiệp theo mức như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ khoản 1, Điều 42 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định tiền chậm nộp phạt vi phạm hành chính về hóa đơn.

“Điều 42. Tiền chậm nộp phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

1. Tính tiền chậm nộp tiền phạt

a) Tổ chức, cá nhân chậm nộp tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thì bị tính tiền chậm nộp tiền phạt theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền phạt chậm nộp.

b) Số ngày chậm nộp tiền phạt bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo chế độ quy định và được tính từ ngày kế tiếp ngày hết thời hạn nộp tiền phạt đến ngày liền kề trước ngày tổ chức, cá nhân nộp tiền phạt vào NSNN”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp đã hết thời hạn nộp tiền phạt vi phạm hành chính vào NSNN theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn của cơ quan thuế, nhưng doanh nghiệp vẫn chưa nộp tiền phạt vào NSNN thì bị tính tiền chậm nộp tiền phạt theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền phạt chậm nộp.

Số ngày chậm nộp tiền phạt bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo chế độ quy định và được tính từ ngày kế tiếp ngày hết thời hạn nộp tiền phạt đến ngày liền kề trước ngày tổ chức, cá nhân nộp tiền phạt vào NSNN.

Câu hỏi: Công ty chúng tôi phát sinh chi trả thu nhập cho người lao động không có hợp đồng hoặc có hợp đồng lao động dưới 3 tháng. Các cá nhân làm cam kết để Công ty tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) theo quy định. Tuy nhiên, việc khấu trừ hay không khấu trừ thuế TNCN các trường hợp này có những điểm Công ty chưa rõ như sau:

Trường hợp người lao động là lao động công nhật. Việc cam kết chỉ có thu nhập một nơi là thu nhập tại thời điểm phát sinh thu nhập tại Công ty hay thu nhập cho cả năm dương lịch? Mặc dù người lao động đã có bản cam kết tự chịu trách nhiệm trước pháp luật thì phía Công ty có được miễn trừ trách nhiệm về tính chính xác của bản cam kết hay không? Công ty có được quyền từ chối nhận bản cam kết của người lao động khi không xác minh được tổng thu nhập của người lao động hay không?

Trả lời:

Căn cứ điểm i, khoản 1, Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định về khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế:

“Điều 25. Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (3) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết”.

Tại Phụ lục II Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính ban hành biểu mẫu bản cam kết số 08/CK-TNCN áp dụng khi cá nhân nhận thu nhập và ước tính tổng thu nhập trong năm dương lịch chưa đến mức chịu thuế TNCN.

Căn cứ các quy định trên, trường hợp người lao động của Công ty trong năm nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% (của một hoặc nhiều đơn vị), nhưng theo ước tính tổng thu nhập trong năm của người lao động sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì người lao động làm cam kết theo biểu mẫu 08/CK-TNCN nêu trên. Công ty căn cứ vào bản cam kết này để không khấu trừ thuế TNCN khi trả thu nhập cho người lao động theo điểm i, khoản 1, Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Câu hỏi: Công ty tôi có lập một hóa đơn thay thế cho hóa đơn điện tử có sai sót trước đó nhưng lại phát hiện hóa đơn thay thế lại có sai sót thì không biết có thể hủy hóa đơn thay thế này để lập một hóa đơn thay thế khác không?

Trả lời:

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 7 Thông tư 78/2021/TT-BTC quy định về việc xử lý hóa đơn điện tử, bảng tổng hợp dữ liệu hóa đơn điện tử đã gửi cơ quan thuế có sai sót trong một số trường hợp như sau:

“Điều 7. Xử lý hóa đơn điện tử, bảng tổng hợp dữ liệu hóa đơn điện tử đã gửi cơ quan thuế có sai sót trong một số trường hợp

1. Đối với hóa đơn điện tử:

c) Trường hợp hóa đơn điện tử đã lập có sai sót và người bán đã xử lý theo hình thức điều chỉnh hoặc thay thế theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 19 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, sau đó lại phát hiện hóa đơn tiếp tục có sai sót thì các lần xử lý tiếp theo người bán sẽ thực hiện theo hình thức đã áp dụng khi xử lý sai sót lần đầu”;

Căn cứ quy định trên, trường hợp công ty đã thực hiện xuất hoá đơn thay thế hoá đơn điện tử có sai sót trước đó thì nếu hoá đơn thay thế tiếp tục có sai sót thì không được thực hiện huỷ hoá đơn mà phải thực hiện xuất hoá đơn điện tử mới thay thế cho hoá đơn thay thế có sai sót.

TTHT
Bình luận

Tin khác

Back To Top