Tiến tới Ngày hội Văn hóa dân tộc Thái lần thứ II

Vài cảm nhận về văn học dân gian Thái

08:31 - Thứ Năm, 03/10/2019 Lượt xem: 4795 In bài viết

ĐBP - Nhờ vào thế mạnh có chữ viết riêng, nên trong quá trình giao lưu và tiếp biến, nền văn hóa Thái nói chung và văn học dân gian Thái nói riêng có điều kiện để giữ gìn và phát triển. Ðó là hệ thống các truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn; các trường ca, truyện thơ, sử thi, anh hùng ca; các bài ca dao, đồng dao; các câu thành ngữ, tục ngữ... nội dung bao trùm mọi lĩnh vực đời sống tự nhiên và đời sống con người, cả đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần...

Tại các lễ hội Xên mường Mường Thanh, thường tổ chức diễn xướng các sử thi và trường ca dân tộc Thái vùng Tây Bắc.

Trong quá trình chuẩn bị tư liệu cho bài viết này, thật may mắn là tôi được mời tham dự Ðại hội lần thứ V - Chi hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam tỉnh Ðiện Biên (ngày 21/09/2019). Thời gian Ðại hội diễn ra tròn một ngày, tôi có dịp trao đổi, thỉnh thị ý kiến của rất nhiều các văn nghệ sỹ đại điện cho nhiều dân tộc trong tỉnh, trong đó, phần đông là các văn nghệ sĩ xuất thân từ chính dân tộc Thái. Ông Mào Văn Ết - Nghệ nhân Ưu tú, Chi hội trưởng Chi hội Văn học Nghệ thuật Các DTTS Việt Nam, tỉnh Ðiện Biên - cho biết: Trong quá khứ thời đất nước chưa giành được độc lập (trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945), hầu hết văn học các DTTS là văn học dân gian, do chính người dân lao động sáng tác. Không ít tác phẩm, sau khi một người sáng tác xong được nhiều người khác tiếp nhận, sử dụng và thêm thắt. Quá trình này diễn ra không phải một, hai năm mà hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Gọi văn học dân gian là vì thế và yếu tố Folklore cũng qua đó mà trở nên rõ nét.

Trong toàn bộ nền văn học dân gian Thái, thể loại truyện thơ, sử thi, trường ca... nổi lên như những đại diện ưu tú nhất, rực rỡ nhất và đây đồng thời là loại hình tiêu biểu của văn học dân gian các DTTS nói chung, dân tộc Thái nói riêng. Nếu sử thi chinh phục người đọc bởi âm hưởng anh hùng ca, thể hiện ước mơ xây dựng cuộc sống yên vui, thái bình của cộng đồng Thái thì truyện thơ mang đậm yếu tố trữ tình, phản ánh khát vọng lứa đôi trong hạnh phúc lâu bền. Một khi đề cập đến sử thi của dân tộc Thái, hiển nhiên không thể không nhắc đến hai tác phẩm nổi tiếng là Táy pú xấc và Chương Han. Như chúng ta đều biết, Táy pú xấc là tác phẩm thuộc thể loại sử thi có qui mô lớn với độ dài hàng nghìn câu thơ. Nội dung kể chuyện cha ông (tức tổ tiên) người Thái trên đường khai phá, lập bản dựng mường đã phải thực hiện nhiều cuộc “so gươm” để bảo vệ thành quả lao động. Táy pú xấc mô tả lịch sử trong một dòng chảy xuyên suốt với những sự kiện bi tráng, vừa mang chất sử liệu vừa mang chất anh hùng ca, thể hiện tư tưởng, tình cảm, ước mơ của cộng đồng người Thái trong bước đường thiên di gian khổ nhưng rất đỗi vinh quang. Sử thi Chương Han còn gọi là Khun Chưởng, gồm 2.940 câu thơ tự do, chia thành 11 chương được lưu truyền rộng rãi ở các tỉnh Tây Bắc. Nội dung tác phẩm tập trung ở nhân vật Chương Han với sức mạnh như vũ bão đã đứng lên đập tan các bộ lạc cát cứ, đem lại cuộc sống thái bình, thịnh trị cho người Thái trên vùng Tây Bắc. Sử thi Chương Han có đoạn: “Mãi mãi là chúa tể đỉnh trời bao la bát ngát // Chẳng còn bầy giặc lớn nào dám về đánh phá // Cả trần gian yên ổn, đẹp dạ thỏa lòng”.

Các nhà nghiên cứu cho rằng thay vì đề cập đến bi kịch của cá nhân thì sử thi Chương Han đề cập đến cả tộc người Thái và hơn nữa, cả cộng đồng các dân tộc anh em. Có thể các diễn tiến trong tác phẩm không hoàn toàn trùng khớp với hiện thực xã hội đương thời, nhưng chính khuynh hướng lãng mạn đã đẩy tư tưởng tác phẩm lên một tầm cao hơn, đó là sự đoàn kết, đồng tâm của một tộc người, trong khát vọng sinh tồn bền vững. Theo nhà nghiên cứu Cà Văn Chung, ngày nay, hình tượng Chương Han vẫn còn được khắc sâu trong tâm trí của nhiều thế hệ người Thái, không chỉ trong tác phẩm sử thi mà đi vào trong các thể loại khác như thơ ca, truyện cổ tích. Trong đời sống văn hóa dân gian đã hình thành nên một điệu hát riêng cho sử thi này, gọi là “Khắp Chương”, một hình thức diễn xướng độc đáo của người Thái (gần như hình thức hát tuồng của người Kinh). Trong dân gian, người dân còn đem ảnh hưởng của người anh hùng Chương Han gắn với các sự vật, hiện tượng trong đời sống hàng ngày; ví dụ ngọn núi Chương, dòng suối Chương, loài hoa Chương... Thậm chí ở một số vùng, với niềm kính trọng chân thành, người ta dùng danh từ riêng “Chương” để đặt tên cho con cháu.

Ngoài khối lượng đồ sộ các tác phẩm sử thi và anh hùng ca, văn học dân gian Thái còn được biết đến với hàng loạt truyện thơ; trong đó, nhiều tác phẩm đạt đến trình độ mẫu mực, như: Truyện Hiến Hom; Khun Lú - nang ủa (Chàng Lú - nàng ủa); Tản chụ xống xương (Tâm tình tiễn thương) và đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất là thiên tình sử Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) với độ dài 1.846 câu thơ trau chuốt (ghi bằng lời hát), giàu hình ảnh, được đưa vào chương trình văn học trong nhà trường phổ thông. Truyện kể rằng ở bản nọ có hai đứa trẻ (một nam, một nữ) được sinh ra cùng một giờ và cùng một ngày. Ðôi trẻ lớn lên bên nhau, chơi đùa bên nhau và tình yêu của họ cũng nảy sinh từ lúc nào khi đôi trai gái đến tuổi trưởng thành. Ngặt nỗi nhà chàng trai rất nghèo nên bố mẹ cô gái không đồng ý cho hai người lấy nhau và thế là bi kịch xảy ra, cô gái được gả cho con một gia đình giàu có và quyền thế khác. 

Xống chụ xon xao là lời chàng trai dặn dò người yêu khi tiễn nàng về nhà chồng. Lúc đầu, chàng trai phẫn chí bỏ sang Lào đi buôn, dự tính rồi nay mai có đủ bạc vàng sẽ quay về chuộc lại người yêu. Với niềm tin son sắt, cô gái chờ đợi mùa ban này sang mùa ban khác, đến lúc người yêu quay lại thì cũng là khi anh chồng hết thời hạn ở rể, buộc cô phải về nhà chồng theo phong tục truyền thống. Vào đúng ngày cô “vu quy”, thật bất ngờ khi người yêu cũ quay về bản và bi kịch được đẩy lên cao hơn. Mọi cố gắng của chàng trai tan theo giọt lệ đang khô dần trên má người yêu. Biết đã quá muộn, chàng trai cải trang thành một người khách đưa dâu, để dọc đường tìm cơ hội thổ lộ nỗi lòng với người yêu cho vơi niềm ly hận. Trái tim cô gái mách bảo cho nàng biết đây chính là người yêu cũ và hai người hẹn với nhau rằng “đôi ta không lấy được nhau thời trẻ sẽ tìm mọi cách để lấy nhau lúc về già”. Sống ở nhà chồng, do mắc bệnh tương tư nên cô gái khi cười khi khóc, bị nhà chồng trả về bên ngoại. Không lâu sau, cô bị gả cho người chồng thứ hai và giờ thì cô càng trở nên thẫn thờ, điên dại hơn. Một ngày nọ nhà chồng đem chị ra chợ bán như bán một món hàng. Nhưng nhân duyên vốn tự trời ấn định, rất tình cờ, người mua chị lại chính là chàng trai ngày trước. Vậy là sau hai lần bến chẳng gặp đò, họ tìm thấy nhau giữa chợ đời và “cái giá” của cô gái được tính bằng bó lá dong mà càng trai đổi cho người bán.

Xống chụ xon xao được nhà thơ Ðiêu Chính Ngâu (dân tộc Thái) dịch ra tiếng phổ thông theo thể thơ tự do. Sau đó không lâu, nhà văn Mạc Phi (dân tộc Hoa, Tổng Biên tập đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Lai Châu, nay là Tạp chí Văn nghệ Ðiện Biên) dịch theo thể thơ văn xuôi. Tiếp theo, nhà thơ Nguyễn Khôi dịch theo thể thơ song thất lục bát. Cần nói thêm rằng bấy lâu một số bạn đọc lầm tưởng Nguyễn Khôi là người Thái ở Sơn La hoặc Yên Bái. Thực chất ông là người Kinh, Chuyên viên Cao cấp, nguyên Phó Vụ trưởng Văn phòng Quốc hội Việt Nam, quê gốc phường Ðình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; hiện trú tại nhà riêng số 259/39 Phố Vọng - Hà Nội. Với hơn 20 năm công tác tại Sơn La, hồn quê Quan họ Nguyễn Khôi thấm đượm hương sắc bản mường xứ Thái. Có thể nói, ông đã “hóa thân” vào nỗi đau trong tình yêu dang dở của chàng trai Thái, để chuyển Xống chụ xon xao ra thể thơ song thất lục bát - Một thể thơ truyền thống với niêm luật chặt chẽ, vần điệu uyển chuyển, được sử dụng khá phổ biến trong các trường ca và truyện thơ tiếng Việt.

Tựu trung, văn học dân gian Thái rất phong phú, trong đó sử thi và truyện thơ là hai loại hình tiêu biểu với nhiều tác phẩm đạt đến trình độ đỉnh cao, mang những nét đặc trưng cho tư duy và phong cách diễn đạt của người Thái. Thông thường kết cấu tác phẩm theo một motip quen thuộc: Gặp gỡ rồi chia ly, chia ly nhưng sau đó lại đoàn tụ, với âm hưởng trữ tình, độc đáo, ngôn ngữ kể chuyện được trau chuốt thành những câu thơ gợi cảm, giàu hình ảnh và sức biểu đạt...

Bài, ảnh: Trương Hữu Thiêm
Bình luận

Tin khác