Y tếSức khỏe

Phòng và điều trị bệnh quai bị

10:38 - Thứ Sáu, 29/12/2017 Lượt xem: 601 In bài viết
ĐBP - Quai bị là bệnh lây truyền, gây ra bởi vi rút có tên Mumps vi rút, thuộc giống Rubulavirus, họ Paramyxoviridae. Vi rút có thể tồn tại khá lâu ở môi trường ngoài cơ thể từ 30 - 60 ngày ở nhiệt độ 15 - 20oC, khoảng 1 - 2 năm ở nhiệt độ âm sâu (- 25 tới -70oC). Ðồng thời, chúng bị diệt nhanh chóng ở nhiệt độ trên 56oC, hoặc dưới tác động của tia tử ngoại, ánh sáng mặt trời và những hóa chất khử khuẩn chứa clo hoạt và các chất khử khuẩn bệnh viện thường dùng. Bệnh có khả năng gây nhiễm ở bất kì lứa tuổi nào, trong đó trẻ em từ 5 - 8 tuổi là lứa tuổi dễ bị nhiễm bệnh nhất. Các biến chứng, di chứng trong bệnh quai bị rất ít nhưng khá nặng nề: Nam giới có thể bị vô sinh do cả hai tinh hoàn bị viêm nặng; nữ giới có thể sinh non hoặc thai nhi sinh ra bị tổn thương giác mạc, tim, não; trẻ em có thể để lại di chứng điếc tai có khi vĩnh viễn, não úng thủy, tiểu đường do viêm tụy tạng kéo dài.

 

Cán bộ Phòng tiêm chủng Safpo 20 (Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh) tiêm vắc xin phòng bệnh cho trẻ. Ảnh: C.T.V

Căn cứ vào nơi khu trú của vi rút gây bệnh, các nhà khoa học đã xác định các thể lâm sàng của bệnh quai bị gồm: viêm tuyến nước bọt mang tai thường gọi là quai bị, dưới hàm, dưới lưỡi; viêm tinh hoàn, buồng trứng; viêm tụy tạng, viêm màng não, viêm não - màng não... viêm một số cơ quan khác (viêm tuyến vú, viêm tuyến tiền liệt, viêm tuyến giáp trạng cấp tính và bán cấp tính, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, viêm phổi không điển hình, viêm thận, viêm đa khớp, viêm tủy sống cấp tính, viêm đa rễ thần kinh, viêm dây thần kinh não số I, VII, VIII là dây thần kinh khứu giác, mặt và thính giác). Mỗi loại viêm có các thể điển hình và thể ẩn.

 Chẩn đoán xác định bệnh quai bị căn cứ vào 3 yếu tố dịch tễ, lâm sàng và xét nghiệm. Về dịch tễ, cần dựa trên thông tin bệnh nhân đang ở nơi đang có dịch bệnh, mùa bệnh thường vào mùa đông xuân, người bệnh có tiếp xúc với người mắc bệnh quai bị khoảng 15 - 21 ngày trước đó. Về lâm sàng, bệnh nhân bị viêm tuyến nước bọt mang tai cấp tính không sinh mủ. Về xét nghiệm, thấy bạch cầu giảm, tế bào lympho tăng cao, amylase máu và nước tiểu cũng tăng cao trong trường hợp viêm tụy tạng tiềm tàng; dịch não tủy có albumin tăng ít, tế bào tăng nhiều, đa số là tế bào lympho trong trường hợp viêm màng não thanh dịch tiềm tàng do vi rút; đồng thời thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán huyết thanh đặc hiệu giúp cho chẩn đoán xác định, lưu ý huyết thanh phải lấy 2 lần cách nhau 1 - 2 tuần và phải có hiệu giá huyết thanh lần 2 tăng 4 lần so với huyết thanh lần 1 trở lên mới có giá trị chẩn đoán dương tính. Trong tất cả các trường hợp bệnh, để chẩn đoán quyết định phải phân lập được vi rút quai bị của bệnh nhân từ máu trong 2 ngày đầu, nước bọt và dịch não tủy trong tuần đầu và nước tiểu vào ngày thứ 12. Cần lưu ý chẩn đoán phân biệt với các trường hợp viêm tuyến mang tai do những nguyên nhân khác để tránh nhầm lẫn.

- Bệnh quai bị không có thuốc điều trị đặc hiệu, nếu sử dụng kháng sinh thường không có tác dụng nên chỉ điều trị theo cơ chế và triệu chứng. Chống viêm tuyến nước bọt mang tai bằng biện pháp cách ly bệnh nhân thời gian tối thiểu 9 ngày, cho người bệnh nằm yên một chỗ, hạn chế đi lại nhất là trong thời gian còn sốt và sưng đau tuyến nước bọt khoảng 4 - 6 ngày; chườm nóng vùng hàm, nếu cần cho dùng thuốc an thần nhẹ, súc miệng bằng nước muối, uống nước chua, ngậm chanh, ăn nhẹ, ăn thức ăn lỏng những ngày đầu. Chống viêm tinh hoàn bằng cách mặc quần lót chật để treo tinh hoàn, chườm nóng; nằm nghỉ 5 - 7 ngày trong thời gian đau, dùng thuốc giảm đau và chống viêm, dùng vitamin E trong thời gian 1 - 2 tháng để tạo khả năng sinh tinh trùng sau viêm tinh hoàn. Chống viêm tụy tạng bằng cách nhịn ăn, thay thế bằng nước uống hoặc dịch truyền, dùng thuốc giảm đau. Chống viêm màng não bằng cách chọc dịch não tủy 1 - 2 lần, mỗi lần rút ra 10 - 15ml; dùng thuốc chống viêm phối hợp với dung dịch ngọt glucose ưu trương truyền nhỏ giọt tốc độ nhanh cho đến khi bệnh nhân tỉnh, cần kết hợp với việc nuôi dưỡng và hộ lý bất động. Chống viêm đa khớp, viêm tuyến giáp trạng có thể dùng các loại thuốc để giảm viêm và chống đau thông thường.

Người tiếp xúc với bệnh nhân cần đeo khẩu trang bảo vệ, không cần tẩy uế buồng bệnh hoặc phòng bệnh và các dụng cụ bệnh nhân thường dùng. Việc phòng bệnh quai bị tốt nhất là sử dụng vắc xin để phòng ngừa bằng cách tiêm loại vắcxin sống giảm độc lực phối hợp phòng 3 bệnh sởi, quai bị và rubella có tên thương mại là MMR II (Measles, Mumps, Rubella), tiêm cho trẻ em từ 15 tháng tuổi trở lên và có thời gian bảo vệ được hơn 11 năm hoặc tiêm vắc xin Trimovax cũng là loại vắc xin phối hợp phòng 3 bệnh này, tiêm cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên và có thời gian bảo vệ cũng hơn 10 năm.

T.K (b/s)
Bình luận